Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015

Tròn vị mặn – đắng cà phê

Ghi chép: VĂN VIỆT
Thưởng thức ly cà phê sóng sánh cánh hoa và ngọn thông Đà Lạt, “thượng đế” được cảm nhận tròn vị mặn thanh của biển hòa quyện với hương đắng thơm của rừng. Và khi lắng đọng tâm hồn dõi theo câu chuyện tình cà phê muối, một phần ký ức riêng mình bất chợt quay về…

Tinh khiết cà phê muối
Nghe kể nhiều giai thoại về quán cà phê muối ( salt coffee) ở đường Tăng Bạt Hổ, Đà Lạt mà mãi sau một năm hoạt động, tôi mới đặt chân đến làm khách– dù chỉ cách nhà ở không quá năm phút xe máy. Nếu hỏi vì sao vậy thì viện đủ lý lẽ trả lời, nhưng trong đó có lý do về lứa tuổi “tri thiên mệnh” đã không không thuyết phục chính tôi khi được mời ngồi trên chiếc ghế gỗ mô phỏng hình chiếc ghế đá công viên. Cả không gian 60 mét vuông bố trí gần 10 bộ bàn ghế với 10 chiếc guitar thùng. Màu trắng của cát, màu xanh của sóng biển dập dờn, màu vàng lung linh của những ánh đèn lồng đan bằng cây lồ ô xứ núi. Người phục vụ đưa cho khách tôi một trang giấy trắng A4 ép nhựa trong suốt, xuất hiện lên trên những dòng chữ in đậm về chuyện tình cà phê muối: “Dạ, có 4 loại cà phê arabica Đà Lạt pha chế với muối biển tinh khiết, xin được mời dùng…” Tôi nhìn thực đơn mỗi ly cà phê đen và ly cà phê sữa có giá từ 18.000 đồng đến 42.000 đồng. “Cho một ly cà phe đen pha phin…”- Tôi gọi. Nhân viên quán cười tươi: “Dạ, ở đây cà phê bột arabica xay hạt nhân và hòa tan tại chỗ với vị muối mặn. Quý khách không phải chờ nhỏ xuống từng giọt cà phê như những quán khác… ”
Tôi đọc chưa hết đoạn mở bài câu chuyện tình của cà phê muối, người phục vụ đã mang đến một ly cà phê đen ấm nóng. Nhâm nhi từ vài ngụm đầu tiên cho đến những giọt cuối cùng, dù cố giữ lại thật lâu nơi chót lưỡi, tôi thật khó phân tách trong cảm nhận của mình đâu là vị mặn thuần của muối và đâu là vị đắng thuần của cà phê, bởi đã trung hòa thành một mùi hương khác biệt – mùi hương tinh khiết cà phê muối Đà Lạt…   
Cộng sự tật nguyền
Khi tôi ngỏ lời được tiếp xúc với người chủ quán cà phê muối Đà Lạt, nhân viên đứng quày tiếp tân cung cấp số điện thoại của nam thanh niên Đặng Đình Quý ( sinh năm 1984), một người tật nguyền bại não lúc tuổi mới lên ba. Sau 3 hồi chuông đổ, Quý nhấc máy. Tôi nghe cả tiếng gió biển ùa vào từng cơn. Thì ra, Quý đang đàm phán liên kết xây dựng một cửa hàng cà phê muối Đà Lạt tại Khu Du lịch Cảng Kê Gà của thành phố Phan Thiết. Hôm sau trước khi về Đà Lạt hẹn gặp tôi, Quý ghé lại thị trấn Di Linh, huyện Di Linh cũng với việc thỏa thuận mở thêm quán cà phê muối Đà Lạt thứ 3 nữa. “Em và các bạn cùng cố gắng mở rộng hợp tác để cho ra đời thêm các cửa hàng chi nhánh cà phê muối ( salt coffee) Đà Lạt – thương hiệu đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Chứng nhận bảo hộ độc quyền…”- Quý chia sẻ với âm giọng không tròn trịa của người khuyết tật.
Buổi sáng chủ nhật cuối năm, tại quán cà phê muối Đà Lạt, tôi bắt tay “chào ông chủ” thì bất ngờ nhìn thấy Quý không vui. “Quán có 3 người cùng góp vốn kinh doanh. Gọi em là người cộng sự của quán, em thấy thích hợp vai trò của em hơn…”- Quý chân thành. Nhưng thật tình thì Quý đang đứng tên chủ quán và “chủ ý tưởng” “salt coffee” này. Chuyện bắt đầu từ tháng 12 năm ngoái, một nữ cộng sự quyết định rời bỏ công việc lương cao ở một công ty nước ngoài để lên Đà Lạt cùng kể một câu chuyện tình ngọt ngào của…cà phê muối. Câu chuyện cuốn hút từ giới trẻ đến giới trung niên và cao niên. Rằng cô gái xinh đẹp đã nhận lời tỏ tình của một chàng trai rất đỗi bình thường từ “nguyên cớ” ly cà phê muối. Và họ đã thành vợ chồng chung sống bên nhau trọn đời với ly cà phê muối mỗi sáng. Vị mặn của muối với vị đắng của cà phê xúc tác với nhau thành một chất men tình yêu hòa hợp không thể rời xa.
Vậy là 250 triệu đồng vốn đầu tư từ 3 thanh niên gồm Quý, cộng với một cộng sự nữ và một cộng sự nam đã huy động từ nhiều nguồn khác nhau, tiến hành thuê một mặt bằng 60 mét vuông trên đường Tăng Bạt Hổ, Đà Lạt để khởi nghiệp bán cà phê muối. Trước đó, Quý đã đưa 3 nhân viên (bạn thời sinh viên) đi học nghề 3 tháng pha chế cà phê muối ở Sài Gòn. Quán khai trương tương đối nhiều khách trong những tháng đầu và đáng mừng đã duy trì ở mức ổn định doanh thu cho đến ngày nay. Tuy nhiên, so với yêu cầu kinh doanh của cả nhóm đặt ra thì tỷ lệ thành công mới đạt khoảng 65%, hợp thành từ các yếu tố chính như: thương hiệu cà phê muối duy nhất của Việt Nam kể một câu chuyện tình; cà phê xay hạt nhân trực tiếp tại quán là nguyên hạt cà phê arabica Cầu Đất, Đà Lạt với chất lượng thơm ngon hàng đầu thế giới; một không gian cà phê thưởng ngoạn ấn tượng bởi thiết kế của nhóm sinh viên Đại học Yersin Đà Lạt vô địch toàn quốc SV 2012…Còn lại tỷ lệ 35% chưa đạt về hạch toán lợi nhuận, về chiến lược thị trường trước mắt và lâu dài, về nguồn vốn đầu tư chiều sâu…
Tôi đọc đâu đó về chiến lược kinh doanh phải giành ra một khoản tiền đầu tư năm năm, mười năm không lãi để đưa thương hiệu của mình thân thuộc với khách hàng. Với thương hiệu cà phê muối Đà Lạt tròn vị mặn- đắng chỉ sau một năm hình thành và phát triển đang được nhắc đến nhiều trên các diễn đàn mạng xã hội trong và ngoài nước, nhưng chưa nhiều người biết rằng, người tạo dựng là một chàng trai khuyết tật với tuổi “tam thập” cân nặng chưa tới 40kg, tay chân run rẩy không tự lái xe máy được, đã trải qua một quãng đời vượt lên bao nghịch cảnh chính mình để “chen vai, thích cánh” lấy tấm bằng cử nhân du lịch. Và xin được cảm phục nhắc lại tên một lần nữa, đó là chàng trai Đặng Đình Quý có hộ khẩu thường trú tại xã Liên Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng./.
THÁNG 12/2014

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

Chàng trai khuyết tật và quán cà phê muối

Đặng Đình Quý (30 tuổi), là cựu sinh viên khoa Du lịch, trường ĐH Yersin Đà Lạt, đang là chủ quán Salt Coffee (cà phê muối) ở phố núi Đà Lạt. “Ông chủ” này lại là người khuyết tật, một điển hình của sự vượt lên số phận. Chàng trai khuyết tật và quán cà phê muối Đặng Đình Quý chủ quán Salt Coffee - Ảnh: Lâm Viên Người cộng sự Khi còn là sinh viên, Quý đã viết hàng chục kịch bản phim truyền hình cộng tác với các đài truyền hình. Quý cho biết, sau khi lấy bằng cử nhân năm 2009, anh gửi hơn 20 đơn xin việc làm, nhưng không được hồi âm. Một lần đi thăm bạn ở TP.Phan Thiết (Bình Thuận), Quý kiếm được việc và làm quản lý tại một resort ở Mũi Né. Sau hơn 3 năm “làm bạn” với biển nhưng Quý vẫn không thể quên hương vị đậm đà của cà phê Đà Lạt. Quý tâm sự: “Đà Lạt nổi tiếng với cà phê Arabica (cà phê chè), nhưng du khách ít khi được thưởng thức cà phê Arabica chính hiệu. Đó là ý tưởng để Quý mở quán cà phê Salt Coffee”. Được sự hợp tác của một người bạn ở TP.HCM và các bạn khoa Kiến trúc (ĐH Yersin Đà Lạt) nên ý tưởng Salt Coffee trở thành hiện thực. Theo Quý, một chút muối làm giảm vị đắng của cà phê, nhưng lại tăng vị đậm “ngọt” thay vì phải pha trộn các hương vị tạp chất khác và đó là nét đặc trưng của quán. “Khi khách gọi, lúc đó mới xay cà phê, vì muốn bỏ muối vào tách cà phê thì đó phải là cà phê nguyên chất chưa pha hương liệu gì”- Quý giải thích. Du khách có thể tận mắt xem cách pha chế cà phê muối ngay tại quầy, đây cũng là cách để thu hút du khách đến quán. Nằm trên con đường “phố Tây” Tăng Bạt Hổ của Đà Lạt, nên mỗi sáng sớm và chiều tối khá đông du khách nước ngoài tìm đến Salt Coffee. Ngoài cà phê muối, Salt Coffee có gần 60 thức uống khác nhau, nhiều loại được pha chế tại chỗ. Bước đầu mỗi ngày quán thu nhập từ 1,2 đến 1,5 triệu đồng, tạm đủ các chi phí và trả lương cho nhân viên. Đặng Đình Quý quê ở Hưng Yên, từ năm lên 3 đã phải gánh chịu căn bệnh bại não khiến tay chân bị co quắp, nói năng cũng không bình thường. Học xong lớp 9, Quý phải nghỉ học vào Lâm Đồng lập nghiệp với bố mẹ. Nhờ một gia đình cưu mang, Quý được trở lại trường học và tiếp tục học bậc đại học. Nay Quý tự tạo cơ hội để thăng tiến bản thân, vừa làm chủ quán cà phê, Quý vừa tiếp tục sáng tác kịch bản phim truyền hình. Lâm Viên

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Đặng Đình Quý- niềm đam mê và những trang viết phi thường

Đặng Đình Quý- niềm đam mê và những trang viết phi thường

(Khám phá) - Đến 3 tuổi, Quý vẫn là đứa trẻ oặt ẹo trông đến tội nghiệp, gần 5 tuổi mới chập chững những bước đi khó nhọc đầu đời.

Tôi biết Quý qua sự giới thiệu của một người quen, sau mấy bận gọi điện hỏi han, tôi mới khoác ba lô nhảy xe đò từ Đà Nẵng tìm đến vùng đất Mũi Kê Gà thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để gặp Quý.
[links()]
Khác với những gì tôi đã hình dung, Quý trước mắt tôi là 1 chàng trai có khuôn mặt khôi ngô, đôi mắt sáng long lanh nhưng đôi tay lại co quắp, đôi chân yếu, gầy guộc, tật nguyền.

Phải khó khăn lắm, Quý mới vượt qua mấy chục bậc tam cấp từ khu vực nhà hàng của Eco Spa Village Resort lên tận đường cái để đón tôi, rồi đưa tôi trở lại khu vực uống cà phê nằm sát với mép biển xanh đang rì rào sóng vỗ.

Bên tách cà phê đang thoảng hương ngào ngạt cùng tiếng sóng biển rì rào vỗ vào vô tận ngút ngàn xanh, Đặng Đình Quý ngồi kể cho tôi nghe về cuộc đời của 1 chàng trai 28 tuổi.

Những câu chuyện tuổi thơ buồn, đau và hạnh phúc, những biến cố tưởng chừng như rồi sẽ buông xuôi, những khát vọng phi thường, những đoạn trường nghiệt ngã…tất cả đã hiện ra trong niềm xúc động đến nghẹn ngào.
Đặng Đình Quý
Đặng Đình Quý
Quê Quý ở làng La Tiến, xã Nguyên Hòa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Năm 1984 khi mới lọt lòng mẹ, Quý đã phải chấp nhận sự nghiệt ngã của số phận, khi bác sĩ khẳng định Quý bị bại não bẩm sinh.

Đến 3 tuổi, Quý vẫn là đứa trẻ oặt ẹo trông đến tội nghiệp, gần 5 tuổi mới chập chững những bước đi khó nhọc đầu đời.

Để chạy chữa căn bệnh quái ác của Quý, bố mẹ và người thân đã dốc hết những gì có giá trị trong nhà để bán lấy tiền thang thuốc, nhưng kết quả Quý vẫn là đứa trẻ tật nguyền, chân tay teo tóp, đi đứng chậm chạp và nói không tròn tiếng.

Trắng tay, bố mẹ quyết định gửi Quý cùng đứa em trai lại cho bà nội và người cô ruột để bươn chải tìm đường lên vùng kinh tế mới Lâm Hà (Lâm Đồng) kiếm kế mưu sinh.

Dưới mái tranh nghèo bên dòng sông Luộc, một người bà tuổi đã xế chiều hôm sớm mưu sinh bằng gian hàng xén, một người cô là giáo viên tiểu học với đồng lương ba cọc, ba đồng, vậy mà họ đã chắt chiu để dưỡng nuôi anh em Quý qua từng ngày khôn lớn.

Năm lên 6 tuổi, người thân chạy vạy để đưa Quý đến trường vào lớp 1. Nhìn tấm thân hom hem với tay chân co quắp, nhiều người bảo rằng “cho cháu đến trường cho vui chứ học hành làm sao được”, nhiều khi nhìn đứa cháu tội nghiệp lê những bước chân khó nhọc dưới sân trường, vật lộn hàng giờ để tập đánh vần một hai con chữ, người cô ruột của Quý đã ngậm ngùi nuốt nước mắt vào trong.

Vậy mà như có phép màu, Quý học hành rất chăm chỉ và kết quả ngày càng được nhiều người thán phục, nhiều bạn bè từ khi còn trêu chọc Quý nay đã trở nên thân ái để cùng nhau phấn đấu trong học tập.

Ngoài giờ đến trường, Quý cùng bạn bè đồng trang lứa cũng ruỗi rong khắp nơi trên cánh đồng làng để mò cua, bắt ốc, tuy thành quả lao động không thể bằng các bạn lành lặn khác, nhưng không buổi nào ra đồng mà Quý phải chịu cảnh trở về tay không, mỗi lần như thế bà và cô của Quý cứ mừng mừng, tủi tủi nước mắt lưng tròng.

Học xong lớp 9, Quý và em trai từ biệt miền đất thơ ấu của mình, từ biệt bà và cô để theo bố mẹ vào sinh sống ở vùng đất đỏ ba-zan Lâm Hà (Lâm Đồng) nơi có những cánh rừng cà phê bạt ngàn xanh ngút mắt.

Đến vùng đất mới, do gia cảnh khó nghèo vì liên tiếp nhiều mùa cà phê rớt giá, Quý đành phải chấp nhận nghỉ học ở nhà để dành niềm vui đến trường cho đứa em trai.

 Những ngày thôi học, Quý tìm niềm vui ở việc đi câu cá giúp gia đình cải thiện bữa ăn và chăm sóc những luống cà phê đang vào thời kỳ đơm hoa kết trái.

Lao động chân tay đối với một con người lành lặn đã là khó khăn trăm bề, nhưng với Quý, chàng trai tật nguyền giàu nghị lực vẫn từng ngày trằn mình với công việc của một nông dân làm cỏ, bón phân…và không nguôi ấp ủ ước mơ sẽ có lúc cà phê được giá để  kinh tế gia đình bớt khổ, để bản thân sẽ được tiếp tục đến trường.

Trong cảnh khó nghèo bí bách, có khi, bố Quý rầu rĩ nói với vợ mình rằng “Thôi thì con mình tật nguyền, học hành đến biết đọc, biết viết thế cũng là đủ, ít lâu nó lớn thì tìm cho nó 1 người vợ, đến lúc mình già không lo lắng được cho con thì cháu mình cũng đủ lớn để cho bố nó nương tựa…”.

Thế rồi, trời như chiều lòng người, liên tiếp mấy năm sau cà phê bán rất được giá, với 7 ha cà phê của gia đình, lúc vào mùa cũng đã có của ăn của để.

Không để cho ước mơ của mình lụi tắt, Quý xin được tiếp tục đi học chương trình bổ túc văn hóa tại một Trung tâm giáo dục – dạy nghề cách nhà 6 km. Lần hồi rồi Quý cũng lấy được tấm bằng tốt nghiệp lớp 12.

 Vốn rất thần tượng Abraham Lincoln – Một  của người nghèo, một vị tổng thống đã mở ra nhiều bước ngoặt trọng đại cho lịch sử nước Mỹ.

Quý đã làm hồ sơ dự thi vào học ngành Luật của Đại học Đà Lạt. Thế nhưng, hai lần dự thi, ba lần bài thi của Quý được hội đồng giám khảo soi xét, nhưng Quý vẫn thiếu 1 điểm để vào trường.

 Đó cũng là lý do đưa đẩy Quý đến làm sinh viên của Khoa Quản trị Du lịch – Trường Đại học Yersin – Đà Lạt.

 Trong suốt thời gian theo học, bằng tất cả sự nỗ lực của mình, Quý đã nhận được những học bổng rất danh giá như: học bổng “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam” do Tỉnh Đoàn Lâm Đồng trao tặng; học bổng “Ươm mầm ước mơ” do Ngân hàng Sacombank trao tặng; học bổng IPL “hạt giống lãnh đạo” do Học viện Doanh nhân tổ chức…

Ai đó nói rằng,  luôn là nơi chốn ẩn náu của những tâm hồn yếu đuối, họ tìm đến với phim ảnh không những để tìm kiếm một bến đỗ bình yên mà còn là để gửi gắm, ký thác những nỗi niềm sâu kín.

Và như một lẽ tự nhiên của định mệnh, chàng thanh niên tật nguyền Đặng Đình Quý đã chọn việc viết kịch bản phim truyền hình để làm cái bến đỗ bình yên cho tâm hồn mình, để làm nơi ký thác những khát khao cháy bỏng của một tâm hồn dễ vỡ với dài rộng cuộc đời đa sắc diện này.

Ngồi đối diện với tôi trước muôn trùng sóng biển, Quý kể rằng: Tình cờ em đọc được cuốn sách in mấy kịch bản phim của Đạo diễn Đặng Nhật Minh có tựa là “Bao giờ cho đến tháng Mười”.

Đọc xong, ngồi ngẫm nghĩ…vậy là viết liền một mạch câu chuyện phim dài đến 1.026 trang bản thảo (khi dựng phim chừng 40 tập) với tựa đề “Những mùa hè đã qua”.

Viết xong, em mạnh dạn gửi đến Hãng phim truyện Việt Nam và âm thầm chờ đợi. Một ngày, người đại diện của hãng phim gọi  đến Khoa Quản trị Du lịch – Đại học Yersin Đà Lạt để tìm Quý và thông báo với em rằng kịch bản “Những mùa hè đã qua” sẽ được đưa vào kế hoạch sản xuất phim do đạo diễn Bùi Cường dàn dựng.

Phía hãng phim đồng ý trả nhuận bút cho Quý số tiền là 20 triệu đồng. Kịch bản này là câu chuyện của 3 người bạn trẻ Hoàng Thanh – Mai Anh – Bích Vân, họ cùng nhau học tập và lớn lên dưới 1 mái trường.

Câu chuyện kéo dài 13 năm với đủ mọi cung bậc của tình cảm, đủ mọi biến cố của đời người.

Mai Anh trở thành một cánh hoa phiêu dạt chốn bụi đời; Hoàng Thanh được người thân đưa đi du học ở Mỹ; Bích Vân trở thành người quản lý một chuỗi khách sạn của gia đình.

 Trong hành trình của cuộc sống, trong quá trình kiếm tìm hạnh phúc, những nhân vật trong phim đã phải trải qua rất nhiều khúc thăng trầm khiến họ phải rời xa nhau, nhưng vẫn luôn đau đáu nghĩ về nhau…

Mọi chuyện diễn ra rất suôn sẽ, những tưởng kịch bản đầu tay của Quý đã được dựng thành phim, thế nhưng cho đến thời điểm này, những trang bản thảo của “Những mùa hè đã qua” vẫn còn nằm trong ngăn kéo.

Sau khi hoàn tất “Những mùa hè đã qua”, Quý bắt tay viết kịch bản phim “Mùa mai anh đào” dài 32 tập.

 Đây là kịch bản Quý viết về Đà Lạt, thành phố mộng mơ với những con người nhân hậu đã cưu mang Quý trong một khoảng thời gian dài đèn sách.

Bên cạnh đó, Quý muốn thông qua bộ phim này để đưa hình ảnh và vẻ đẹp thanh tao của loài Mai anh đào ở Đà Lạt đến được với nhiều người và để quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam đến với công chúng muôn phương.

Quý bảo, một thanh niên gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt như thế mà vừa học, vừa hoàn tất niềm đam mê của mình là một cố gắng lớn.

Tuy nhiên, phải đến lúc Quý cầm trên tay tấm bằng tốt nghiệp đại học để bước xuống đời, hòa mình vào cuộc mưu sinh cơm áo với những người xung quanh mới thấy hết những nghiệt ngã của lẽ đời.

Sau những lần được tôn vinh, được nhận học bổng này, học bổng nọ, Quý nhận được từ những người lớn hơn mình rất nhiều lời hứa, rằng sau khi tốt nghiệp, Quý sẽ được ưu ái nhận vào làm việc chỗ này, chỗ nọ…nhưng thế rồi, sau ngày ra trường ít lâu, Quý đã gửi đi chừng trên dưới 20 email có đính kèm CV xin việc, nhưng mòn mỏi chờ đợi vẫn chẳng thấy có hồi âm. Buồn, thất vọng, nhưng vẫn phải sống để chờ đợi một cái gì đó ở phía tương lai.

 Vậy là Quý chấp nhận theo chân một ông họa sĩ già ở Đà Lạt, đến trọ gần nhà ông để hành nghề viết kịch bản phim thuê.

Theo thỏa thuận giữa Quý và ông họa sĩ già phố núi thì ngày ngày Quý cứ miệt mài viết kịch bản phim thuê cho ông họa sĩ, nếu kịch bản phim nào bán được, Quý sẽ được trả 25% toàn bộ giá trị.

 Nếu kịch bản không bán được, Quý vẫn được bao ăn ở nhà trọ và trả thêm 500.000 đồng mỗi tháng để tiêu vặt.

Trong khoảng thời gian hành nghề viết kịch bản phim thuê ấy, có một kịch bản phim dài 30 tập mang tên “Trăng thề” đã được bán với giá 150 triệu đồng. Kiếm được một số tiền, cùng lúc có người bạn thân đang làm việc ở Eco Spa Village Resort mời xuống chơi.

 Vậy là Quý lên đường đi thăm bạn. Quý nói với tôi rằng, chuyến đi ấy, Quý nghĩ chỉ đến thăm bạn đôi ba ngày rồi sẽ tìm cách vào Sài Gòn để kiếm kế sinh nhai.

 Ai ngờ, mảnh đất bình yên ở ngay bên mũi Kê Gà này đã níu giữ bước chân Quý lại. Chỉ 1 CV xin việc chuyển qua đường email, sau vài câu phỏng vấn từ xa của người chủ khu Resort, Quý đã trở thành nhân viên ở đây.

Đã ba năm qua, với cương vị của 1 nhân viên giám sát chất lượng phục vụ khách hàng, hàng ngày Quý phải đi quanh khu Eco Spa Village Reort để kiểm tra, nhắc nhở những nhân viên phục vụ ở các bộ phận trong khu nghỉ dưỡng.

Với đồng lương chừng vài triệu đồng mỗi tháng, Quý bảo cũng tạm ổn với một đời sống bình thường

Đêm đêm, trở về trong căn hộ nằm ngay trên mé biển, Quý cặm cụi để hoàn tất nốt những tập cuối cùng của kịch bản phim “Bình minh trước biển” một bộ phim Quý dự định sẽ viết 30 tập về mảnh đất Đà Lạt và Phan Thiết, về Quý và những người tốt bụng xung quanh mình, về những buồn vui của cuộc sống…

Chia tay tôi Quý bảo, ước mơ lớn nhất của Quý bây giờ là có 1 nhà đầu tư điện ảnh nào đó để ý đến những kịch bản phim của Quý, chắp cánh cho những trang viết ấy đến được với người xem và Quý sẽ đầu tư kỹ càng để viết một kịch bản phim về thế giới của những người khuyết tật như Quý.

Nắm tay em, tôi chúc cho những ước mơ của Quý sớm thành sự thực, chúc cho hành trình bước về phía trước của Quý sẽ vơi đi những khúc khuỷu gập ghềnh.           
                                                    
  •  Hoàng Ngọc Thuận

Những con chữ phi thường của Đặng Đình Quý

Phim ảnh có lẽ luôn là nơi ẩn náu của những tâm hồn yếu đuối. Người ta đến với phim ảnh không chỉ bởi người ta cần đến một bến đậu bình an mà còn gửi gắm những tâm sự thầm kín. Với Đặng Đình Quý, những kịch bản phim mà cậu viết ra là cả những khát vọng được giãi bày, sẻ chia, như chắt từ những trang nhật ký phi thường của cậu thanh niên 24 năm sống trong tật nguyền.
Hơn hết thảy là khao khát được cống hiến của một người sinh ra đã rơi vào cửa nhà thần chết, nhưng đã tìm được lại cuộc sống của mình bằng một nghị lực phi thường.
Bại não, nhà quá nghèo và sống theo những cuộc di cư của bố mẹ, nhưng cậu bé 4 tuổi mới tập những bước đi đầu tiên này đã trở thành sinh viên năm thứ 3 Khoa Quản trị du lịch, Đại học Yersin Đà Lạt.
Cậu cũng là tác giả của hơn ngàn trang bản thảo kịch bản phim "Những mùa hè đã qua" đang được Hãng phim truyện Việt Nam đưa vào sản xuất.
Một kịch bản mạch lạc, dù có rất nhiều lỗi chính tả. Nếu dựng phim, đây sẽ là bộ phim dài chừng ba chục tập. Đọc có những chỗ vẫn còn ngây ngô, có những ý tưởng quá đơn giản, nhưng vẫn có những lấp lánh của tài hoa.
"Những mùa hè đã qua" là câu chuyện của ba bạn trẻ Hoàng Thanh, Mai Anh và Bích Vân. Họ lớn lên dưới một mái trường và rồi tình yêu nảy nở. Và biết bao biến cố đã xảy đến trong cuộc đời những người trẻ tuổi.
Mai Anh trở thành kiếp hoa lưu lạc. Hoàng Thanh đi du học ở Mỹ. Còn Bích Vân đang giúp gia đình quản lý chuỗi khách sạn. Quá khứ và hiện tại, trong hành trình đi tìm hạnh phúc, những người trẻ đã chịu những va đập của số phận khiến họ phải rời xa nhau nhưng vẫn không thôi nghĩ về nhau. Một kịch bản không dấu vết của kỹ thuật, được viết liền mạch như một cuốn tiểu thuyết.
Quý nói, cậu bắt tay vào viết kịch bản khi đọc xong cuốn sách "Bao giờ cho đến tháng Mười" của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Cuốn sách ấy in kịch bản văn học của bộ phim "Bao giờ cho đến tháng Mười" của ông và Quý nghĩ rằng, chỉ cần viết như vậy là đủ.
Kịch bản ấy được viết trong những ngày Quý ôn thi vào đại học trên những trang giấy viết tay. 1.026 trang bản thảo, với hơn 40 nhân vật và quãng thời gian trải dài hơn 13 năm, tham vọng của chàng trai trẻ này là muốn quảng bá du lịch vào phim và coi đây là một lời tuyên chiến với phim Hàn Quốc.
Kịch bản đầu tay của Quý như thể những trang nhật ký phi thường được viết bằng những ngày tháng đầy khó nhọc của chàng trai này, những trang đời chứa cả máu và nước mắt.
Nhân vật chính không phải là cậu, nhưng anh ta cũng trải qua rất nhiều biến cố và là hình ảnh mà Quý khát khao hướng tới.
Quý gửi cho tôi cả lá thư mà cậu gọi là "lá thư cực kỳ quan trọng", gửi ông Giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam, nơi cậu gửi kịch bản tới với hy vọng lớn là những ý tưởng của mình sẽ xuất hiện trên màn ảnh.
Cậu muốn kịch bản nhận được những lời nhận xét tốt và sẵn sàng bỏ nếu nó thực sự không có giá trị. Nhưng nếu được làm thì cậu muốn mọi thứ, từ trang phục cho đến bối cảnh đều được thực hiện tại ViệtNam và là hàng hóa Việt Nam, như một cách quảng bá thương hiệu.
Và cậu muốn hãng trích lại 10% tiền nhuận bút từ kịch bản của cậu để tổ chức đào tạo những người trẻ tuổi, để cậu có cơ hội được học về điện ảnh và tiếp tục đam mê của mình.
Đọc bức thư ấy, thoạt đầu tôi bật cười vì những khát vọng hồn nhiên của Quý. Nhưng rồi tôi thấm thía. Có lẽ trong trái tim nguyên sơ của chàng trai này là một tình yêu điện ảnh nồng nàn và khao khát được cống hiến. Điều đó ở Quý có thể đã mạnh hơn ở tôi trong lúc này.
Khi cậu lúc nào cũng thấy cuộc đời rất đẹp để tiến tới. Còn tôi, có những khi tôi đã muốn rũ bỏ mọi thứ, cả những ước mơ chữ nghĩa của mình, chỉ vì tôi gặp vài vận hạn trong đời.
Tôi vẫn nghĩ rằng, chàng trai này là một phép thử của tạo hóa với con người. Một phép thử đặc biệt, để xem sức chịu đựng của con người tới đâu và con người ta có thể vượt qua những khó khăn nào.
Tôi nói chuyện với Đặng Đình Quý, cảm giác cậu phát âm rất khó khăn nên đề nghị cậu trả lời câu hỏi qua email. Nhưng tôi đã sai lầm. Viết được một chữ với Quý còn khó hơn vạn lần. Không ai nghĩ cậu có thể viết được khi cậu đi học.
Cậu từng tâm sự với bạn, nếu chữ cậu đẹp có thể cuộc đời cậu đã khác rồi. Quý viết chậm. Đó là tật bẩm sinh. Quý viết: "Tuổi thơ tôi bắt đầu từ con sông Luộc, cây đa, ngôi trường làng… Cho đến hôm nay, trong mắt tôi đó là một tuổi thơ đẹp nhưng nhiều máu, mồ hôi nước mắt, chia ly và cả một chút đố kị, ghen ghét, ước ao, thèm muốn giống như các bạn.
Mặc dù có thể cho đến bây giờ nhiều bạn của tôi ngày xưa đã không bằng tôi hôm nay. Họ chỉ học hết cấp hai hoặc cấp ba đã đi lấy chồng, lấy vợ hoặc đi làm công nhân, còn riêng tôi đang được học đại học.
Tôi nhớ nhất những lần bị bạn bè trêu chọc chế giễu. Và nhớ những bước đi đầu tiên. Những lần vấp ngã. Tôi ngã suốt cả thời thơ ấu và đến cả bây giờ thi thoảng tôi vẫn còn bị ngã. Nhưng tôi không muốn ai nhìn thấy tôi ngã và sợ cảm giác họ chạy đến đỡ mình dậy. Tôi muốn tự đứng dậy và bước đi tiếp.
Tôi rất ít khóc khi ngã, mặc dù chảy máu rất nhiều. Tôi sợ nếu khóc thì người ta biết là mình ngã. Tôi không muốn. Tôi sinh ra ở Hưng Yên, một tỉnh thuần nông và cả hai bố mẹ đều là nông dân, ngoài làm ruộng không có nghề phụ gì khác.--PageBreak--
Năm 1990, khi đó tôi 6 tuổi, em trai 4 tuổi vì cuộc sống quá khó khăn nên cả hai bố mẹ đã bỏ làng vào Lâm Hà (Lâm Đồng) khai hoang để hai anh em tôi cho bà và cô. Bà chỉ bán hàng vặt ở nhà, còn cô là giáo viên cấp 1 trường làng.
Tôi bắt đầu đến lớp năm lên 6 tuổi và có lẽ cũng biết chữ từ đó, nhưng cô giáo nghĩ: cho tôi đến trường ngồi cho vui, chứ tôi không thể viết được, bởi tôi không thể cầm được bút.
Tôi không khóc vì bị ngã hay vì bị chảy máu mà khóc vì không thể cầm được bút. Và đến bây giờ thì khó khăn nhất đối với tôi vẫn là chuyện cầm bút và viết. Rất nhiều giáo sư cảm thấy ái ngại và tiếc nuối cho tôi. Nếu chữ tôi đẹp có lẽ tương lai tôi còn tươi đẹp hơn bây giờ...". 
Rất may là có Internet. Internet đã giúp mọi quá trình của Quý ngắn lại. "Internet và máy tính làm cho tôi quên đi và không còn nghĩ rằng tôi là người tàn tật. Hàng ngày ngoài giờ học bình thường, tôi ngồi trên mạng ít nhất từ 6 đến 8 tiếng để khai thác nguồn thông tin hay tài nguyên vô tận này. Tôi tin rằng tôi hơn rất nhiều so với các bạn cùng khoa" - Quý tự tin.
Đang là sinh viên năm thứ 3 Khoa Quản trị du lịch K2 Trường Đại học Yersin Đà Lạt, trong mắt gia đình và bạn bè, Quý đã không còn là một người tàn tật.
Đặng Đình Quý và các bạn trong Khoa Quản trị du lịch Đà Lạt.
Quý không thực sự yêu thích công việc quản trị. Từ nhỏ, Quý đã thần tượng Abraham Lincoln và ước mơ lớn nhất của cậu là trở thành luật sư, một luật sư của những người nghèo.
Nhưng hai lần thi, ba lần chấm đều thiếu một điểm nên Quý phải chuyển qua ngành Quản trị du lịch, một ngành không hề hợp với Quý. Bản chất của quản trị là một tiến trình sử dụng và quản lý người khác để khai thác triệt để các nguồn tài nguyên sao cho hợp lý. Quý thích phong cách quản trị của người Nhật.
Cậu được đào tạo những môn như quản trị, quản trị nhân sự, tâm lí lãnh đạo, quản trị dự án đầu tư, quy hoạch du lịch... và các môn chuyên ngành khác và cậu muốn sau khi ra trường có thể làm về thiết kế và điều hành tour. Quý nói với tôi rất nhiều điều về du lịch và sự kết hợp của điện ảnh và du lịch.
Quý đã từng có những bữa cơm rất khó nhọc, từng sống không biết ngày mai sẽ ra sao vì gia đình quá nghèo, từng phải học bổ túc 2 năm 3 lớp ban đêm để đuổi kịp chương trình. Suốt 2 năm học bổ túc đêm, Quý đi học được nhờ sự giúp đỡ của những người thân quen, vì nhà cách trường tới 6km.
Đã có những khi Quý không biết ngày mai mình có thể tới lớp không vì niềm hy vọng của Quý phụ thuộc vào những mùa cà phê lên giá hay mất giá. Cứ như thế, sự cùng quẫn đeo đẳng cậu cho tới khi vào đại học.
Nhưng chàng trai này là người mạnh mẽ và quyết liệt. Chưa khi nào cậu muốn dừng lại. Cậu muốn làm được một điều gì đó. Hiện giờ thì Quý nói đùa, mình đã là "đại gia", vì gia đình cậu có tới 7 ha cà phê ở Lâm Hà và có 5 người làm công nhân giúp và mấy năm qua cà phê được giá. Em trai cậu cũng đang học năm thứ 4 Khoa Du lịch K28 Đại học Đà Lạt.
Tôi hỏi Quý có dự định gì cho năm mới 2008 không? Quý không ngần ngại nói rất nhiều những dự định lớn. "Cụ thể năm 2008 mong muốn lớn nhất của tôi là kịch bản phim truyền hình dài 20 tập "Những mùa hè đã qua" sẽ được Hãng phim truyện Việt Nam khởi quay.
Và kịch bản "Con đường mới" 20 tập, tôi đang viết tập 10 sẽ được một hãng phim nào đó sử dụng. Còn trong tương lai xa hơn là tôi mong muốn có thể góp phần nhỏ bé để kết hợp điện ảnh và du lịch,  lấy điện ảnh để quảng bá hình ảnh du lịch và trích một số nguồn thu của du lịch để phục vụ cho việc phát triển điện ảnh theo kiểu phát triển kép.
Điều này Điện ảnh Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan đã làm rất thành công nhưng ở Việt Nam hiện nay rất ít người nghĩ đến. Tôi hy vọng "Con đường mới" tôi đang viết sẽ là một sự thử nghiệm thành công.
Khi bước vào giảng đường đại học, tôi đã từng nói với thầy Trưởng khoa về phát triển du lịch bền vững, sử dụng du lịch như một công cụ chống lại nghèo đói, nhất là khi Việt Nam vẫn còn 16 triệu người nghèo chủ yếu là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người.
Qua những lần đi thực tế tôi nhận thấy Việt Nam có rất nhiều tiềm năng về mô hình này nhưng chưa được nghiên cứu đầu tư khai thác đúng mức và nghiêm túc để mang lại hiệu quả cao hơn cho người nghèo.
Đặc biệt là đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc… Nếu đủ điều kiện tôi sẽ thành lập Công ty Hoa Hướng Dương theo mô hình này. Có thể tại Đạ Tẻ hoặc Cát Tiên hai huyện nghèo nhất và hay bị thiên tai bão lụt nhất tỉnh Lâm Đồng" - Quý hào hứng.
Còn chuyện tình yêu? "Hy vọng sẽ có một người con gái yêu tôi và tôi có thể dành cả đời mình cho người đó. Cho đến bây giờ, tôi vẫn là người cô đơn. Nhưng có lẽ sau bài báo này tôi sẽ không còn cô đơn nữa. Hy vọng vậy. Tôi sẽ cố gắng làm việc nhiều hơn có thể vì cả điều đó nữa" - Quý nói. Và cười rất tươi. Nụ cười tuổi hai mươi rất trẻ!